* cao su làm cho sắt thép mềm đi
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tài liệu về PU. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tài liệu về PU. Hiển thị tất cả bài đăng

Chúc mừng năm mới 2014!

Cao su Việt kính chúc quý khách hàng năm mới an khang, thịnh vượng.


Chúc mừng năm mới 2014!

Mối tương quan giữa độ cứng và bề dày của lớp cao su

Việc xác định độ cứng bằng đồng hồ đo, chỉ là phép đo mức độ kháng lại độ lún của đầu kim nên phụ thuộc rất lớn vào bề dày của lớp cao su. Điều này tạo ra sự khác biệt giữa độ cứng biểu kiến và độ cứng thật sự. Khi mài lớp cao su bên ngoài để giảm bề dày thì độ cứng biểu kiến có thể tăng lên nhưng độ cứng thật sự không thay đổi.

Mối tương quan giữa độ cứng và bề dày của lớp cao su
Nguồn: www.vlab.vn
(lnxp-caosuviet)

Các loại Polyurethane đổ khuôn - Polyols

Có hai loại polyols chính là: polyete và polyeste.
1. Polyete
Polyurethane loại này có khả năng chống lại quá trình thủy phân tốt, nhưng độ bền và độ dai kém hơn.

Bánh xe PU sử dụng Polyete
2. Polyeste
Polyeste có tính kháng dầu tốt hơn loại polyete nhưng tính chống lại quá trình thủy phân kém hơn


Lô trục PU sử dụng Polyeste
Nguồn: http://www.vlab.com.vn/newsDetail/polyurethan-polyols-12020911-L.aspx

Kết dính giữa kim loại và cao su

Để cao su bám dính tốt với kim loại, cần sử dụng chất kết dính. Tùy thuôc vào điều kiện sử dụng mà chọn chất kết dính cho phù hợp. Nội dung này được thể hiện khá rõ trong tài liệu: "Handbook of Rubber Bonding".

"...
Although the development and successful commercialisation of organic adhesives for bonding rubber to metal has freed rubber chemists to use a wider variety of materials while still achieving excellent bonds to metal, there are some general ‘rules of thumb’ that should be followed where possible to improve the probability of bonding to the rubber.
..."
Nguồn: www.vlab.com.vn

Kết dính giữa kim loại và cao su
(lnxp - caosuviet)

PU Products - O-ring PU - Phụ tùng cao su nhựa PU

Tác dụng làm kín, giảm mài mòn thiết bị.

PU Products - O-ring PU - Phụ tùng cao su nhựa PU - Viet Rubber Company
(lnxp - caosuviet)

Phụ tùng cao su nhựa Polyurethane - Trục in PU - PU ink Roller

Làm việc trong môi trường có sự tác động của dung môi, vật liệu polyurethane được ưu tiên lựa chọn.

Phụ tùng cao su nhựa Polyurethane - Trục in PU - PU ink Roller - Cao Su Việt
(lnxp - caosuviet)

Trục in ống đồng bằng vật liệu cao su nhựa PU - Polyurethane

Trục in ống đồng được sử dụng trong dây chuyền in tự động, chuyên in bao bì giấy, màng nhôm, Foil nhôm cho ngành dược phẩm, foil cổ chai bia, nhãn bia.

Trục in ống đồng bằng PU - Cao Su Việt
Trục PU trong ngành in bao bì - Cao Su Việt
(lnxp - caosuviet)

Các chất tạo bọt ban đầu cho bọt PU (Polyurethane)

Bánh xe cao su nhựa PU -
Nhà máy Cao su Việt
Chất dẻo dạng bọt được dùng để cách nhiệt, làm gối nệm, giảm khối lượng sản phẩm, phân tán năng lượng, nổi, trong các ứng dụng cần sự thoải mái. Trong số các chất dẻo khác nhau được tạo bọt, bọt polyurethane (PU) là loại linh hoạt nhất, cả trong tính chất sản phẩm và sự dễ dàng trong sản xuất và ứng dụng.


Cho tới cuối những năm 1950, bọt PU đã được tạo bọt với CO2 (carbon dioxide), được giải phóng khi isocyanate phản ứng với nước. Việc sử dụng chlorofluorocarbons (CFCs) như chất tạo bọt vật lý trong cuối những năm 1950 làm cho việc sản xuất, sử dụng bọt polyurethane quy mô lớn tăng nhanh. Việc sử dụng CFCs như chất tạo bọt dẫn đến sự tạo thành bọt cứng kín với khối lượng thấp, tính chất cơ học tốt và tính chịu tải cho các sản phẩm gối, nệm. Trong CFCs, CFC-11 được chú ý đặc biệt do có những đặc trưng lý tưởng để làm chất tạo bọt: khối lượng phân tử thấp, nhiệt độ sôi gần nhiệt độ phòng (23.8oC), độc tính thấp, không cháy và tính dẫn nhiệt thấp. Điều này cùng với tính ổn định hóa chất, nhiệt rất tốt và chi phí thấp làm cho CFCs là chất tạo bọt được sử dụng cho đa số bọt PU, đặc biệt là bọt cách nhiệt cứng. Methylene chloride được giới thiệu vào giữa những năm 1970 làm chất tạo bọt cho bọt dẻo và bọt liền da.

Tuy nhiên, một số nhà khoa học bắt đầu nghi ngờ về sự hủy diệt môi trường của CFCs khi nhận thấy rằng hầu hết CFCs đã sử dụng được thải vào bầu khí quyển. Các nghiên cứu khoa học cho thấy rằng CFCs sẽ phân tán vào trong tầng bình lưu, ở đây chúng phân hủy để giải phóng các nguyên tử chlorine, các nguyên tử này sẽ xúc tác để phá hủy ozone. Sự phá hủy ozone ở tầng bình lưu dẫn đến tăng chiếu xạ UV-B (vùng 290-320 nm) ở bề mặt trái đất, tác động lớn đến sức khỏe con người và các sinh vật khác. Điều này dẫn đến sự phát triển của nghị định thư Montreal, yêu cầu cắt giảm mạnh việc sản xuất và sử dụng các chất phá hủy tầng ozone. Nghị định thư đã thay đổi sâu sắc hướng và nhịp độ phát triển kỹ thuật trong công nghiệp bọt PU, dẫn đến những nghiên cứu, tìm kiếm các chất tạo bọt vật lý khác không phá hủy tầng ozone thay thế cho CFCs.


Tham khảo từ tài liệu Blowing Agents for Polyurethane Foams, S.N. Singh, iSmithers Rapra Publishing, 2002, trang 3 - 4
Nguồn: www.vlab.com.vn

Bánh xe cao su nhựa PU chịu mài mòn - Công ty TNHH Cao su Việt

(lnxp-caosuviet)

Chúc mừng năm mới

Kính chúc Quý Khách hàng một năm mới an khang, thịnh vượng.

Công ty Cao Su Việt
(lnxp - caosuviet)

Bọt polyisocyanurate biến tính 2-oxazolidone

Sản phẩm bọc nhựa PU -
Cao Su Việt
Bọt polyisocyanurate cơ bản có tính làm chậm cháy. Tuy nhiên, bọt polyisocyanurate biến tính urethane có tính kháng cháy tương đối nhỏ vì liên kết urethane có tính làm chậm cháy thấp. Vì vậy, sử dụng liên kết có tính làm chậm cháy cao có thể cải thiện tính kháng cháy của bọt polyisocyanurate biến tính urethane. 

Liên kết 2-oxazolidone là liên kết kháng nhiệt, tính ổn định nhiệt tăng theo thứ tự sau: liên kết urethane, liên kết 2-oxazolidone, liên kết isocyanurate. Liên kết 2-oxazolidone được xem như liên kết urethane vòng, không có hydro không ổn định. Ngược lại, liên kết urethane có hydro không ổn định và phân tách ở nhiệt độ cao. Sự khác biệt này là lý do cho tính ổn định nhiệt độ của liên kết 2-oxazolidone. 

Tỷ số đương lượng tối ưu của Epoxy/NCO nằm trong dãy 0.05 tới 1.5, khi Epoxy loại Epon 828TM (bisphenol A-epichlorohydrin) và isocyanate loại polymer được sử dụng; xúc tác DMP 30 (2,4,6-tris [dimethylaminomethyl] phenol) và chất tạo bọt CFC-11 được sử dụng trong công thức. Các xúc tác oxazolidone khác nhau đã được nghiên cứu. Ví dụ, các acid Lewis (FeCl3, AlCl3, ZnCl2) được nhận thấy là các xúc tác 2-oxazolidone hiệu quả, chúng tồn tại trong isocyanate loại polymer. Nhóm thứ hai của xúc tác 2-oxazolidone bao gồm các kim loại alcoholate như là aluminum (Al) isopropoxide, calcium (Ca) ethoxide, và magnesium (Mg) ethoxide . 

Các xúc tác rất hiệu quả là các hợp chất gồm acid Lewis và ba-zơ Lewis như AlCl3-tetrahydrofuran, AlCl3-N-methyl pyrrolidone, AlCl3-hexamethyl phosphoric triamide, và AlCl3-tris (2-ethylhexyl) phosphorine oxide. 

Tham khảo từ tài liệu Polyurethane and Related Foams, Kaneyoshi Ashida, CRC - Taylor & Francis, 2006, trang 111 - 113
(lnxp-caosuviet)
Nguồn: www.vlab.com.vn
Trục bọc nhựa PU ngành in - Cao Su Việt

Ngăn tạo khói cho bọt polyisocyanurate

Khớp nối 6 cánh bằng PU -
Cao Su Việt
Bọt polyurethane và polyisocyanurate đang được sử dụng trong các ứng dụng gia đình và thương mại trong những năm gần đây. Nhu cầu trong thị trường xây dựng đặc biệt phát triển. Tuy nhiên, nguy cơ khói sinh ra khi cháy vật liệu xây dựng đã trở thành một trong các vấn đề nghiêm trọng nhất do khói chiếm khoảng không của người bị nạn, cản trở các nỗ lực chữa cháy; khí nóng độc đi kèm gây chết người thậm chí ở những khu vực xa đám cháy. Các chất làm chậm cháy chứa halogen, chúng tạo nên khói đen dày. Ashida và các cộng sự đã đề nghị hai phương pháp ngăn khói: phương pháp hấp thu khói và phương pháp biến tính silicone đặc biệt.


Nguyên lý của quá trình hấp thu khói là chất hấp thu khói được thêm (10 phần trên 100 phần polyol) vào hệ tạo bọt polyisocyanurate. Chất hấp thu là các aromatic aldehyde gồm benzaldehyde, furfural, p-hydroxybenzaldehyde và cinnamaldehyde. Trong đó, benzaldehyde được nhận thấy là chất hấp thu khói tốt nhất. Việc thêm aromatic aldehyde làm cho sự ngăn tạo khói được cải thiện đáng kể nhưng bọt tạo thành có khuyết điểm là dễ vỡ vụn.

Trong phương pháp còn lại, bọt polyisocyanurate sử dụng các hợp chất chứa silicone như chất ngăn khói. Các copolymer poly(siloxane-oxyalkylene) với tỷ lệ ethylene oxide (EO)/Si cao và tỷ lệ propylene oxide (PO)/Si thấp tạo thành bọt có tính vỡ vụn rất thấp, giảm đáng kể sự tạo khói nhưng không hiệu quả về chí phí. Trong phương pháp còn lại, bọt polyisocyanurate sử dụng các hợp chất chứa silicone như chất ngăn khói. Các copolymer poly(siloxane-oxyalkylene) với tỷ lệ ethylene oxide (EO)/Si cao và tỷ lệ propylene oxide (PO)/Si thấp tạo thành bọt có tính vỡ vụn rất thấp, giảm đáng kể sự tạo khói nhưng không hiệu quả về chí phí. Các hợp chất silicone khác như các organosilicate, tetrahydroxyethyl orthosilicate (Si [OC2H4-OH]4) và tetraethylorthosilicate (Si [OC2H5]4), được nhận thấy là các chất ngăn khói mạnh và hiệu quả về chi phí cho bọt polyisocyanurate.


Tham khảo từ tài liệu Polyurethane and Related Foams, Kaneyoshi Ashida, CRC - Taylor & Francis, 2006, trang 131 - 133
(lnxp-caosuviet)

Nguồn: www.vlab.com.vn

Bánh xe nâng bọc nhựa Polyurethane - Cao Su Việt


Polyurethane and Related Foams: Chemistry and Technology

PU, Polyurethane ngày càng được ưa chuộng và phát triển.
PU được nghĩ như một thứ cao su tổng hợp nhưng có nhiều đặc tính của nhựa, nên không biết phân loại PU vào đâu nếu xét về tính ứng dụng ưu việt cả nó.
Hiểu về PU để sử dụng được hiệu quả, vì vậy mời các bạn tham khảo tài liệu: "
Polyurethane and Related Foams: Chemistry and Technology".  Sách này của nhà xuất bản CRC-Taylor & Francis, được viết bởi tác giả Kaneyoshi Ashida. Sách được xuất bản vào ngày 22-09-2006, dày 153 trang.


Sách này cung cấp kiến thức cho những người làm việc liên quan đến polyurethane ở dạng bọt, đặc biệt cho việc nghiên cứu và phát triển, sản xuất, thí nghiệm.

(lnxp-caosuviet)
Lô trục bọc cao su nhựa PU - Cao Su Việt



Bọt polyisocyanurate

Liên kết isocyanurate được tạo thành bởi sự cyclotrimerizate hóa các nhóm isocyanate như được thể hiện trong hình bên dưới.

Cấu trúc hóa học của liên kết urethane có một nguyên tử hydro không bền và nó phân tách ở nhiệt độ tương đối thấp. Ngược lại, liên kết isocyanurate không có nguyên tử hydro không bền. Đây là lý do cho tính ổn định nhiệt cao của bọt polyisocyanurate.


Bánh xe bọc nhựa Polyurethane
Vietrubber company

Tài liệu sáng chế đầu tiên liên quan bọt polyisocyanurate là bọt urethane chứa liên kết isocyanurate với mục đích là tăng mật độ liên kết bằng cách kết hợp các liên kết 3 nhóm chức vào trong bọt urethane cùng với việc dùng các polyol polyester có độ nhớt thấp, số nhóm chức thấp.  Điều này dẫn đến tạo thành bọt urethane cứng. Bọt polymer được tạo thành bởi quá trình polycyclotrimerizate các polyisocyanate thơm không dùng các chất biến tính có cấu trúc kết mạng cao. Vì vậy, bọt tạo thành cực kỳ cứng và dễ vỡ và không chịu được ứng suất đóng gói và vận chuyển. Thêm vào đó, khi tiếp xúc với lửa, bọt vỡ thành từng mảnh nhỏ như bắp rang. Những khuyết điểm này làm cho không thể dùng bọt cho các ứng dụng thực tế.

Kỹ thuật đột phá mạnh mẽ trong sản xuất bọt cứng kháng nhiệt, lửa và đặc biệt tính vỡ vụn thấp được phát minh đầu tiên bởi K. Ashida, công ty Nisshin Boseki (Nisshinbo Industries Inc.) ở Nhật Bản vào năm 1966. Nguyên lý của sáng chế Ashida là giảm mật độ kết mạng bằng chất biến tính. Các chất biến tính sử dụng bao gồm các polyol polyether với khối lượng phân tử 300 hoặc lớn hơn với số nhóm chức ít nhất ba. Bọt không cháy với tính kháng nhiệt, lửa cao và tính vỡ vụn thấp được tăng thêm bởi sự kết hợp các chất độn vô cơ như graphite, đá tan và sợi vô cơ.

Bọt polyisocyanurate biến tính được dùng làm vật cách nhiệt cho các tòa nhà, lớp lõi bọt mỏng cho tường, tấm cách nhiệt cho máy nhà, vật cách nhiệt cho bể chứa khí hóa lỏng (LPG), bể chứa khí thiên nhiên hóa lỏng (LNG) dưới đất.

Tham khảo từ tài liệu Polyurethane and Related Foams, Kaneyoshi Ashida, CRC - Taylor & Francis, 2006, trang 101 - 103

(lnxp-caosuviet)
Nguồn: www.vlab.com.vn
Khớp nối PU 6 cánh - Cao Su Việt

Bọt polyisocyanurate được tạo bọt bằng nước

Phớt PU - Cao su Việt
Nước được sử dụng làm chất tạo bọt có những thuận lợi và hạn chế sau. Đầu tiên, nước luôn có sẵn và rẻ tiền hơn các chất tạo bọt khác. Ngoài ra, khi sử dụng nước làm chất tạo bọt, không tạo ra nguy cơ gây hại cho tầng ozone. Tuy nhiên, dùng nước làm chất tạo bọt làm cho cho độ nhớt của hệ cao hơn so với khi dùng các chất tạo bọt vật lý; tính ổn định kích thước thấp, đặc biệt đối với bọt có khối lượng riêng thấp. Tính kết dính với thép, nhôm, hoặc giấy kém. Tính ổn định tồn trữ kém của các bọt được tạo thành từ polyol polyester. Do sử dụng nước nên liên kết urea hình thành, hàm lượng trimer giảm nên tính vỡ vụn, tính dễ cháy của bọt cao.


Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng nguyên nhân tính ổn định kích thước kém của bọt polyisocyanurate được tạo bọt bằng nước là do khả năng khuếch tán của khí CO2từ bọt nhanh hơn sự khuếch tán của không khí vào trong bọt. Vì vậy, tính ổn định kích thước tốt có thể đạt được khi tạo thành bọt có khối lượng riêng cao, không thấp hơn 43.2 kg/m3. Khi sử dụng các chất tạo bọt vật lý, tính vỡ vụn và tính dễ cháy của bọt tạo thành thấp, đặc biệt là các chất tạo bọt đẳng phí vì tính tương thích tốt hơn. Vì vậy, các chất tạo bọt HFCs, ví dụ HFC-245fa và HFC-365mfc, có thể được sử dụng kết hợp với nước như chất đồng tạo bọt. Sử dụng chất tạo bọt vật lý kết hợp với nước giúp giảm chi phí và bọt tạo thành có các tính chất vật lý tốt hơn.

Tham khảo từ tài liệu Polyurethane and Related Foams, Kaneyoshi Ashida, CRC - Taylor & Francis, 2006, trang 111 - 113
(lnxp-caosuviet)
Nguồn: www.vlab.com.vn
Khớp nối bằng PU - Cao su Việt

Bánh xe cao su nhựa PU tại Viet rubber company

Để đáp ứng được khả năng chịu mài mòn tốt, độ đàn hồi cao, kháng xé tốt hơn các loại cao su tổng hợp, việc lựa chọn cao su nhựa PU được xem là biện pháp tối ưu hiện nay.
Được ứng dụng nhiều trong các ngành công nghiệp là các loại bánh xe chịu tải trọng nặng, bánh xe forklift, bánh xe nâng công nghiệp (nâng tay, nâng điện),... 


Viet rubber company - Bánh xe  nhựa PU

Bánh xe forklift bọc nhựa PU
Hình ảnh trên là các sản phẩm được sản xuất và bọc mới tại Viet rubber Cao Su Việt.

(lnxp-vlab-caosuviet)

Bọt polyurethane cứng

Vietrubber company -
Bánh xe Forklift bằng nhựa PU
Bọt polyurethane cứng gồm phần trăm bọt kín cao, có các đặc tính độc đáo như sau. (a) Bọt được tạo thành ở nhiệt độ môi trường mà không cần gia nhiệt. (b) Bọt dính với nhiều loại vật liệu như thép, gỗ, nhựa và bọt nhiệt rắn, sợi. (c) Khối lượng riêng bọt có thể thay đổi trong khoảng rộng từ 20 tới 3000 kg/m3. (d) Chúng kháng dầu mỏ, dầu và các dung môi không phân cực khác. (e) Bọt khối lượng riêng thấp có tính cách nhiệt cao. Đặc tính này hơi khác so với bọt nhiệt dẻo như polystyrene và bọt polyolefin, cũng như bọt nhiệt rắn như bọt phenolic. (f) Chúng có thể tạo bọt tại chỗ như tạo bọt dạng phun, tạo bọt rót tại chỗ và tạo bọt một thành phần nhờ ẩm trong không khí. 


Bọt urethane cứng được ứng dụng trong nhiều sản phẩm cách nhiệt như tủ lạnh, máy đông lạnh, xe tải đông lạnh, thùng chứa đông lạnh, nhà kho, công trình xây dựng đông lạnh, các nhà máy hóa chất và hóa dầu, thiết bị đun nóng nước, các hộp đá xách tay và các phích. Có thể nói bọt urethane cứng đóng góp đáng kể cho việc tiết kiệm năng lượng trên thế giới.

Các nguyên liệu thô cơ bản để làm bọt tấm cứng là polyisocyanate (isocyanante loại polymer hoặc TDI thô), polyol (loại polyether, số nhóm OH trong khoảng 350 tới 500; một phần, polyol loại polyether từ amine thơm, hoặc polyol loại polyester), xúc tác (xúc tác amine bậc ba; xúc tác thiếc nếu cần thiết), chất hoạt động bề mặt silicone, và chất tạo bọt (HFCs, các hydrocarbon-C5, CO2 lỏng, các hỗn hợp đẳng phí). Có thể sử dụng một lượng nhỏ nước như mầm tạo bọt, (0.5 %) kết hợp với các chất tạo bọt vật lý. Tuy nhiên, khi nước được sử dụng như chất tạo bọt chính hoặc duy nhất, vận tốc khuếch tán khí CO2 được sinh ra bên trong bọt đi ra ngoài nhanh hơn vận tốc khuếch tán không khí vào trong bọt. Vì vậy, áp suất khí bên trong bọt thấp hơn áp suất khí quyển, điều này dẫn đến sự co rút bọt. Để tránh hiện tượng này, khối lượng riêng bọt phải tăng lên để chống lại áp suất khí quyển; khối lượng riêng ít nhất là 48 kg/m3.

Tham khảo từ tài liệu Polyurethane and Related FoamsKaneyoshi Ashida, CRC - Taylor & Francis, 2006, trang 82 - 84
(lnxp-caosuviet)
Nguồn: www.vlab.com.vn
Vietrubber company - Bánh xe Forklift bằng cao su nhựa PU

Bọt dẻo liền da

Vietrubber - Trục in offset
Bọt liền da gồm bọt da bên ngoài có khối lượng riêng cao và bọt lõi khối lượng riêng thấp, như cấu trúc sandwich. Trong quá khứ, chất tạo bọt cho bọt liền da là CFC-11. Hiện tại, thay thế cho nó là các chất tạo bọt vật lý gồm hydrofluorocarbons (HFCs) và các chất tạo bọt đẳng phí vì dễ gia công hơn và hiệu quả tạo bọt tốt hơn. Các hydrocarbon C5 không được đề nghị để tạo các loại bọt liền da vì tính tương thích kém với các hệ tạo bọt. Ngoài ra, mặc dù trong một vài tài liệu kỹ thuật nước được sử dụng làm chất tạo bọt nhưng thực tế không sử dụng nước vì nó tạo thành lớp da mỏng.


Bọt liền da, cả dẻo và cứng, có thể được tạo thành bởi quy trình đúc khuôn hở hoặc bởi quy trình tiêm phản ứng (RIM), như được mô tả bên dưới.

Quy trình đúc khuôn hở. Một hệ tạo bọt gồm hai thành phần có khả năng phản ứng được trộn lẫn và rót vào khuôn hở và khuôn được đóng ngay lập tức để cho phép giãn nở bọt và kết mạng. Máy tạo bọt là loại máy phân tán trượt cao, áp suất thấp. Quy trình này được dùng làm các chi tiết ô tô như nắp đậy cốp xe, cái đỡ tay, cái đỡ đầu, chỗ ngồi cho trẻ em, chỗ ngồi mô tô, đế giày và nệm.

Quy trình đúc khuôn kín (Quy trình RIM). Một hệ tạo bọt gồm hai thành phần có khả năng phản ứng được tiêm vào trong một khuôn kín đi qua máy trộn va chạm áp suất cao. Quy trình này phù hợp cho sản xuất các chi tiết ô tô mỏng và lớn như lớp phủ bộ phận hãm xung, cản không khí, nắp đậy khoang chứa đồ đạc và lớp phủ bánh lái.

Do cấu trúc của nó nên bọt liền da có độ cứng hơn bọt thông thường. Ngoài ra, áp suất của quy trình đúc khuôn RIM cho bọt PU thấp hơn so với cho nhựa nhiệt dẻo (polypropylene và polystyrene). Điều này cho phép sử dụng khuôn khối lượng nhẹ, đơn giản và thiết bị có kích thước nhỏ, vì vậy chi phí đầu tư thấp.

Tham khảo từ tài liệu Polyurethane and Related Foams, Kaneyoshi Ashida, CRC - Taylor & Francis, 2006, trang 75 - 78
(lnxp-caosuviet)
Nguồn: www.vlab.com.vn
Vietrubber - Phớt PU khí nén

Độ bền kéo, xé của polyurethane

Vietrubber company - Con lăn PU kéo giấy
Độ bền kéo của polyurethane phụ thuộc vào mức độ chống lại việc các mạch trượt lên nhau hoàn toàn hoặc đứt gãy mạch của các liên kết ngang như liên kết đồng hóa trị, liên kết hydro. Vì vậy, vật liệu có mật độ liên kết ngang càng nhiều thì càng cứng, có mô-đun đàn hồi càng cao và vật liệu khó bị kéo giãn hơn. Nếu một mẫu thí nghiệm đã kéo giãn được hồi phục lại, mẫu thử sẽ không trở lại được kích thước ban đầu, mà chỉ gần đạt được kích thước đó do có một mức độ biến dạng vĩnh viễn. Polyurethane rất nhạy với các vết khía hình chữ V, khi được sử dụng trong điều kiện co giãn liên tục, vết nứt sẽ phát triển và gây hư hỏng. Nhiệt độ có tác động làm giảm độ bền kéo và mô-đun đàn hồi của vật liệu polyurethane, được thể hiện ở hình dưới đây.

Trong khi đó, độ giãn dài tăng khi nhiệt độ tăng do các liên kết ngang có khả năng di chuyển dễ dàng hơn.
Mô-đun của vật liệu polyurethane càng cao thì độ bền xé càng cao. Vì vậy, mật độ liên kết ngang nhiều cũng làm tăng độ bền xé. Nếu mẫu thử có vết cắt thì độ bền xé giảm đi rất nhiều, các mẫu mềm giảm khoảng 10 lần, trong khi các mẫu cứng giảm 5 lần. Do đó, ta thấy độ bền xé bị tác động rất lớn bởi các vết nứt trên bề mặt vật liệu nên ta phải gia công, vận chuyển sản phẩm một cách cẩn thận. Về thành phần hóa học, các vật liệu polyurethane loại polyester có độ bền xé lớn hơn polyurethane loại polyether. Độ bền xé của polyurethane cũng giảm nhanh khi nhiệt độ tăng.

Tóm tắt từ tài liệu Castable Polyurethane Elastomer, Ian Clemitson, CRC Press, 2008, trang 125 - 126
(lnxp-caosuviet)

Nguồn: www.vlab.com.vn
Vietrubber company - Bánh xe forklift bằng PU

Bọt PU tưng nảy cao và bọt PU nhớt đàn hồi

Vietrubber company -
Phớt PU định lượng thuốc nước
Bọt tưng nảy cao (High Resilience Foam, HR) có tính tưng nảy cao hơn các loại bọt dẻo thông thường. Ví dụ, hệ số lún của bọt HR từ 2.4 tới 3.0 và tưng nảy bi là khoảng 70%. Bọt tưng nảy cao được tạo thành bởi quy trình tạo bọt đúc khuôn nguội. Nguyên lý của công thức tạo bọt là giảm các tương tác liên phân tử như là liên kết hydro của các nhóm urethane, các cấu trúc không đều của phân tử polyme. Vì vậy, sử dụng các polyether polyol có khối lượng phân tử cao ( 4,000 tới 10,000 g/mol) và các graft polyol (các polyol loại polymer). Các polyisocyanate được sử dụng bao gồm các hỗn hợp của TDI-8020/MDI loại polymer với tỷ lệ khối lượng 80/20 hoặc chỉ dùng MDI loại polymer. Chất tạo bọt chỉ là nước, không sử dụng các chất tạo bọt vật lý. Bọt tưng nảy cao (HR) được dùng trong các ứng dụng đồ gỗ, ô tô.

Bọt nhớt đàn hồi (Viscoelastic Foam ,VE) được đặc trưng bởi sự phục hồi chậm sau khi nén. Vì vậy, bọt cũng được gọi là là bọt tưng nảy thấp, bọt phục hồi chậm hoặc bọt nhạy nhiệt độ. Bọt VE được sử dụng bởi NASA trong những năm đầu 1960, nhưng chúng chỉ được chú ý trong những năm gần đây. Bọt VE được tạo thành bằng cách dùng hỗn hợp polyol gồm các polyol có khối lượng phân tử cao và thấp. Polyisocyanate được sử dụng có thể là TDI 80/20, TDI 63/36, hoặc MDI loại polymer. Nhìn chung, công thức có chỉ số isocyanate thấp được sử dụng, (ít hơn 100). Bọt VE từ TDI mềm, có tính tưng nảy rất thấp và tính hồi phục chậm. Bọt từ MDI dễ gia công hơn và có thể được sản xuất trong một khoảng rộng hơn của chỉ số isocyanate. Tuy nhiên, độ bền vật lý của bọt từ MDI là thấp hơn nhưng tính tưng nảy cao hơn và biến dạng nén thì tốt hơn bọt từ TDI. Thị trường bọt VE đang phát triển làm nệm ghế cho những người phải ngồi nhiều như các tài xế xe tải, nhân viên văn phòng, phi công, ghế ngồi của xe lăn; các vật dụng thể hấp thu năng lượng như tấm lót sàn phòng tập thể dục, lớp lót của mũ bảo vệ, bộ phận bảo vệ chân, tay, ủng trượt tuyết và giày trượt băng.

Tham khảo từ tài liệu Polyurethane and Related Foams, Kaneyoshi Ashida, CRC - Taylor & Francis, 2006, trang 75 - 78
(lnxp-caosuviet)
Nguồn: www.vlab.com.vn
Vietrubber company - Trục PU in flexo 4 màu